15.6.05

Khai thác nguồn năng lượng mới tại TP Hồ Chí Minh

Theo Tiến sĩ Lê Hoàng Tố - Giám đốc Trung tâm Năng lượng mới và Phát triển nông thôn, TP Hồ Chí Minh là nơi có điều kiện thiên nhiên thuận lợi để phát triển các dạng năng lượng mới như năng lượng mặt trời, năng lượng gió, khí sinh học do có cường độ bức xạ mặt trời trung bình khá cao.

Các huyện ngoại thành giáp biển như Cần Giờ, Nhà Bè, Bình Chánh, đảo Thạnh An là những địa bàn có điều kiện phát triển năng lượng gió tốt. Riêng đảo Thạnh An (với hơn 800 hộ dân đang sinh sống) là xã đảo duy nhất của TP Hồ Chí Minh hiện chưa có điện lưới quốc gia, và cũng là nơi có tiềm năng ứng dụng năng lượng gió lớn nhất.

Về tiềm năng phát triển nguồn năng lượng khí sinh học, tiến sĩ Bùi Xuân An - khoa Công nghệ môi trường ĐH Nông Lâm phân tích: "Chúng ta có thể sản xuất năng lượng khí sinh khối cho TP Hồ Chí Minh từ các nguồn nguyên liệu trong nông nghiệp, lấy từ các chất thải trong trồng trọt và chăn nuôi để sinh khí biogas. Thí dụ như các nguồn chất hữu cơ phụ phẩm cây trồng theo tính toán sơ bộ, với khoảng hơn 60 nghìn hecta gieo trồng, số phụ phẩm có thể sử dụng làm nhiên liệu như rơm, bã mía, thân bắp... hằng năm lên đến trên 600 nghìn tấn, tương đương năng lượng của 250 nghìn tấn dầu”.

Xét về tiềm năng phát triển và khả năng đáp ứng nhu cầu sử dụng năng lượng mặt trời, Tiến sĩ Bùi Tuyên - Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và chuyển giao công nghệ trường ĐH Sư phạm kỹ thuật TP Hồ Chí Minh nhận định: "Trước mắt, năng lượng mặt trời có khả năng đáp ứng ngay nhiều loại nhu cầu về nhiệt năng và quang. Thí dụ, chỉ để đáp ứng cho nhu cầu tắm nước nóng, thành phố hiện có khoảng 200 nghìn bình nước nóng dùng điện và đang tăng nhanh. Nếu ta thay được số bình này bằng những máy nước nóng dùng năng lượng mặt trời sẽ tiết kiệm điện được khoảng 200 nghìn kWh/ngày hay 73 triệu kWh/năm. Về nhu cầu nước nóng trong công nghiệp như lò hơi, khu vực từ Phan Thiết trở vào hiện có khoảng 4 nghìn lò hơi, nếu ta dùng năng lượng mặt trời để nâng nhiệt độ nước cấp lên 30 độ C - cao hơn so với nước cấp lạnh truyền thống - trong thời gian 6 giờ/ngày thì sẽ tiết kiệm khoảng 15 tỷ đồng/năm...".

Hiện TP Hồ Chí Minh là nơi có các hoạt động nghiên cứu và triển khai công nghệ ứng dụng thực tiễn các nguồn năng lượng mới quy mô nhất nước. Từ những năm 1990, khi nhiều thôn xóm ngoại thành của TP Hồ Chí Minh chưa có lưới điện quốc gia, Solarlab - Phân viện Vật lý TP Hồ Chí Minh đã triển khai các hệ thống điện mặt trời để phục vụ nhu cầu cấp thiết như chiếu sáng, nghe nhìn, thông tin liên lạc, phát thanh công cộng, y tế... Gần đây nhất và cũng thành công nhất là dự án "Điện mặt trời phục vụ rừng phòng hộ Cần Giờ".

Dự án này là một bộ phận của chương trình "Năng lượng không tập trung và phát triển nông thôn Việt Nam" hợp tác với tổ chức FONDEM (Pháp), một chương trình mẫu về điện khí hóa nông thôn bằng năng lượng mới. Bên cạnh đó, công nghệ Mạng điện cục bộ - Madicub - nhằm đưa điện mặt trời vào phục vụ phụ tải điện cho nhà nước của Solarlab cũng đã bắt đầu được đưa vào một số gia đình. Tính trung bình một hộ gia đình sử dụng mạng Madicub sẽ tiết kiệm được cho lưới điện quốc gia 300 kWh/tháng. Về năng lượng gió, Trung tâm RECTERE - ĐH Bách khoa cũng đã đầu tư nghiên cứu và chế tạo các động cơ gió để phát điện và bơm nước...

Tuy nhiên, để TP Hồ Chí Minh phát triển hết tiềm năng về các nguồn năng lượng mới, hiện vẫn đang cần một chiến lược đầu tư khai thác một cách hiệu quả nhất. Tại hội thảo Quy hoạch các dạng năng lượng tái tạo trên địa bàn TP Hồ Chí Minh vừa qua, hầu hết các đại biểu tham dự đều thống nhất đề xuất: Cần có sự kết hợp giữa lãnh đạo thành phố, Sở Khoa học - công nghệ và các sở, ngành liên quan để có đề án khảo sát, xây dựng quy hoạch triển khai năng lượng mới một cách toàn diện, giải quyết nguồn điện cho những nơi chưa hoặc không thể có lưới điện (như Cần Giờ); đầu tư và có chính sách hỗ trợ cho các đề tài nghiên cứu có công nghệ, hàm lượng chất xám cao và có tính đột phá...



Theo: Thanh niên 1/11/2004

Phát triển năng lượng mới ở Việt Nam: Vẫn đang "đi bộ trên đường đua"?

Năng lượng mới - xu thế phát triển mang tính toàn cầu Thế giới những năm 70, thế kỷ XX - một cuộc khủng hoảng năng lượng đã khiến cho cả nhân loại lo lắng về sự thiếu hụt các nguồn nhiên liệu. Đó là nguyên nhân dẫn đến các cuộc chạy đua giữa các quốc gia trong lĩnh vực nghiên cứu, ứng dụng những nguồn năng lượng tái tạo.

Mặc dù nhận thức rõ được tầm quan trọng của vấn đề này, nhưng từ đó tới nay, dường như vẫn chưa đạt được hiệu quả như mong muốn trên phạm vi toàn cầu. Theo dự báo, nhu cầu tiêu thụ năng lượng trong vòng 50 năm tới so với năm 1995 sẽ tăng 50% (nếu tăng trưởng kinh tế thấp) hoặc tăng 250% (nếu tăng trưởng kinh tế cao).

Trong khi đó, nguồn năng lượng truyền thống (hoá thạch, thuỷ năng…) vốn được coi là nguồn năng lượng chủ yếu hiện tại, và có thể sử dụng trong khoảng 4 - 5 thập kỷ nữa giờ đây đang cạn dần và trở nên đắt đỏ. Các nhà kinh tế năng lượng trên thế giới đã cảnh báo: Hành tinh của chúng ta có thể tiếp tục lâm vào khủng hoảng năng lượng có tính tàn phá ở thời điểm 2050 - 2060, nếu chúng ta không tiết kiệm và sử dụng hiệu quả các nguồn năng lượng truyền thống hiện có, và nếu không phát triển sử dụng các dạng năng lượng sạch tái tạo.

Chính vì lẽ đó mà gần đây, các nước phát triển đang trong xu thế giảm dần tỷ lệ sử dụng xăng dầu cho các loại động cơ đốt trong. Thay vào đó, các nước nói trên đang phấn đấu tăng tỷ lệ cồn được chiết xuất từ thực vật để giảm thiểu nhập khẩu xăng dầu. Ngay như chính phủ Mỹ, một mặt nắm chặt quyền kiểm soát các khu vực có nguồn dầu mỏ lớn như Trung Đông, và các “điểm nóng” chiến lược trong mạng lưới vận chuyển dầu mỏ trên thế giới, mặt khác, họ tập trung phát triển các dạng năng lượng sạch tái tạo như nhiên liệu sinh học. Tổng thống Mỹ G.Bush tại Hội nghị khẩn cấp bàn về an ninh năng lượng đã nói: “Chúng ta phải sử dụng công nghệ kỹ thuật để phát triển nguồn năng lượng mới…”. Những nghiên cứu tận dụng các chất phế thải, thậm chí cả hoa quả để tái tạo các loại năng lượng sạch, đang trở nên phổ biến trên phạm vi toàn cầu. Những nước đã thành công trong việc nghiên cứu và ứng dụng các dạng năng lượng mới phải kể đến Brazin, Mỹ, Canada, Mexico, Đức, Anh, Pháp, Trung Quốc, Thái Lan, Nhật Bản…

Các hội nghị quốc tế và châu lục về năng lượng liên tục được mở ra. Vào đầu tháng 6 vừa qua, tại Bonn - CHLB Đức đã diễn ra Hội nghị quốc tế về năng lượng tái tạo. Hội nghị đã thu hút trên 1.000 đại biểu từ các châu lục, trong đó có cả Việt Nam. Một điều đặc biệt là, tất cả các đại biểu đến dự hội nghị này không sử dụng xe hơi với nhiên liệu truyền thống, mà sử dụng các phương tiện giao thông đáp ứng tiêu chuẩn sinh thái như chạy bằng quang điện, pin nhiên liệu hoặc nhiên liệu sinh học. Hội nghị đã kêu gọi các quốc gia cùng bắt tay để đẩy nhanh các giải pháp sử dụng năng lượng tái tạo. Năm 2000, CHLB Đức còn có cả một đạo luật về năng lượng tái tạo. Có thể thấy, CHLB Đức là một trong những nước luôn tiên phong trong việc đưa ra các chủ trương khuyến khích đối với vấn đề này. Những biện pháp khuyến khích sẽ được áp dụng đối với cả các nguồn năng lượng xanh khác như: năng lượng gió biển, các nhà máy thuỷ điện lớn. Với các chủ trương được hậu thuẫn về mặt chính trị chỉ trong vòng một thập niên, năng lượng gió đã trở thành nguồn cung cấp điện hiệu quả. Lĩnh vực năng lượng xanh còn tạo được việc làm cho hơn 135.000 nghìn người lao động, đồng thời kinh nghiệm của CHLB Đức cho thấy: Sự phát triển rộng rãi chưa từng thấy của năng lượng tái tạo không phải là kết quả của sự bao cấp của Nhà nước, mà nguồn kinh phí cung cấp cho quá trình sản xuất điện với giá thành cao hơn trước chính là kết quả phân bổ các khoản đóng góp cho tất cả những người tiêu thụ điện.

Tuy những dạng năng lượng sản xuất từ gió, nước, sinh khối thực vật Biomass và ánh sáng mặt trời, trên thực tế “nguyên liệu thô” thường là có sẵn và thường là miễn phí với khối lượng vô hạn, nhưng kinh phí đầu tư để khai thác sử dụng những nguyên liệu đó trong điều kiện hiện nay lại rất cao, cao hơn cả là chi phí trả cho hoạt động sản xuất điện từ ánh sáng mặt trời, vì đây là một hoạt động rất tốn kém. Chính phủ Đức còn hỗ trợ thêm cho quá trình xâm nhập thị trường của quang điện bằng cách, chấp thuận những khoản vay không lãi hoặc với lãi suất thấp. Chính những nguyên tắc này đã có một tác động không nhỏ đối với số tiền mà từng người sử dụng điện phải trả. Thủ tướng Đức, ông Gerhard Schroder đã tuyên bố trong hội nghị Bonn “Trong tương lai, hiệu quả của nguồn năng lượng sẽ trở thành những thương hiệu của các nền kinh tế thị trường thành công một cách bền vững trên toàn cầu. Bất cứ quốc gia nào không đặt nền móng từ bây giờ cho sự phát triển bền vững sẽ trở nên lạc hậu trong cuộc cạnh tranh quốc tế. Chúng ta đã bước vào một thời kỳ phát triển có khả năng đảm bảo tính hiệu quả nguồn năng lượng dài hạn”.

Và Việt Nam vẫn đang “đi bộ trên đường đua”?

Theo báo cáo của Viện Chiến lược Bộ Kế hoạch & Đầu tư, Viện Năng lượng Việt Nam, Tổng công ty Than Việt Nam, Petro Việt Nam, hơn 10 năm qua ở nước ta, việc khai thác năng lượng sơ cấp (than dầu khí, thuỷ năng) tăng trung bình 16,4%/năm. Sử dụng năng lượng sơ cấp tăng bình quân trên 10%/năm. Tốc độ tăng trưởng năng lượng cuối cùng tăng 11%/năm, cao hơn tăng trưởng kinh tế 1,46%. Dự báo trong những năm tới, trung bình mỗi năm, lượng khai thác than là 25 triệu tấn, dầu thô 20 triệu tấn, khí 18 - 20 tỉ m3. Như vậy, nếu có khai thác một cách kinh tế, thì dầu khí cũng chỉ đủ dùng trong vòng 30 - 40 năm, than còn có khả năng sử dụng trong vòng hơn 60 năm, sau đó sẽ cạn dần, khai thác không kinh tế và giá thành cao. Nếu không có chính sách phát triển, sử dụng các dạng năng lượng sạch và năng lượng tái tạo thì Việt Nam sẽ phải phụ thuộc hoàn toàn nguồn năng lượng từ bên ngoài.

Ngay từ những năm 80 - 90 của thế kỷ XX, Việt Nam cũng đã bắt đầu có những chương trình cấp Nhà nước về năng lượng tái tạo do một số đơn vị tham gia. Tuy nhiên từ đó đến nay, các hoạt động nghiên cứu, ứng dụng trong lĩnh vực này vẫn chỉ dừng ở hình thức nhỏ lẻ, mang tính chất tự phát và cảm tính, chưa có sản phẩm được chuyển giao công nghệ để sản xuất với quy mô công nghiệp. Theo báo cáo tại Hội thảo về hoạt động nghiên cứu ứng dụng năng lượng mới & tái tạo ở Việt Nam của PGS - TS Đặng Đình Thống (Trường ĐHBK - HN), thì ở nước ta cũng đã nghiên cứu và ứng dụng được một số nguồn năng lượng như: năng lượng mặt trời (nghiên cứu ứng dụng công nghệ pin mặt trời cung cấp điện cho các khu vực nông thôn, miền núi và những nơi chưa có điện; nhiệt mặt trời chủ yếu để sản xuất nước nóng, nước sạch, chưng cất nước mắm, sấy sản phẩm công nghiệp, v.v...); thuỷ điện nhỏ phát triển mạnh ở các khu vực có điều kiện sông suối; khí sinh học đã được ứng dụng hàng chục năm, và cho đến nay vẫn chủ yếu dùng để làm nhiên liệu (nấu nướng, thắp sáng); Sử dụng năng lượng gió trong việc nghiên cứu ứng dụng các loại máy bơm nước, máy phát điện. Hiện nay, ở Việt Nam cũng đang thực hiện một số dự án lớn như: Chương trình hành động năng lượng mới, xây dựng kế hoạch phát triển ứng dụng năng lượng mới & tái tạo do Ngân hàng thế giới tài trợ; Dự án cung cấp điện bằng hệ thống pin mặt trời cho 300 trung tâm xã thuộc các khu vực miền núi đặc biệt khó khăn do Uỷ ban Dân tộc & Miền núi làm chủ đầu tư. Dự án điện gió lớn nhất đang được triển khai ở đảo Bạch Long Vĩ do TW Đoàn TNCS Hồ Chí Minh làm chủ đầu tư.

Cần có chiến lược mạnh mẽ và thống nhất

Tuy nhiên, những kết quả nêu trên so với thế giới còn quá nhỏ nhoi, và chưa phát huy hết tiềm năng hiện có, hầu như các dự án của nước ta đều phải có sự hỗ trợ từ nước ngoài. Mặc dù vậy, trong quá trình ứng dụng vẫn còn gặp nhiều vấn đề khó khăn, mà đặc biệt là ý thức của người dân. Chúng ta luôn đứng trước thực tế với một câu hỏi: Quản lý thế nào đây, sau khi dự án đã được hoàn thành? Bởi rất nhiều trường hợp hiệu quả sử dụng của các hệ thống bị giảm trầm trọng do người dân tự ý thay đổi thiết kế ban đầu, hoặc sử dụng quá tải cho phép, không chăm sóc bảo dưỡng, thậm chí còn tự ý bán đi một số thành phần trong hệ thống đó… Chính vì vậy, các nhà nghiên cứu luôn mong mỏi, Nhà nước cần có các chính sách rõ ràng về các nguồn tài nguyên hiện nay, nhất là chính sách cụ thể về năng lượng mới & tái tạo. Sự đầu tư cho lĩnh vực này còn rất nhỏ nhoi và hạn chế, điều kiện phục vụ việc nghiên cứu, phát triển và ứng dụng năng lượng mới về vật chất và nhân lực còn thiếu thốn. Trước mắt, đối với các dự án năng lượng mới cần được miễn các loại thuế và Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ thích đáng ban đầu.

Đối với công tác quản lý trước và sau dự án, các nhà khoa học đã đặt vấn đề như sau: Có nên chuyển giao toàn quyền sở hữu cho địa phương quản lý, khi chưa ai dám chắc rằng, khả năng kinh tế của địa phương có thể đảm bảo trả một phần các chi phí vận hành bảo dưỡng. Hoặc sau một vài năm, khi một số thành phần trong hệ thống đó bị hư hỏng, liệu dân có thể tự mua sắm và thay thế được không, và sự cam kết giữa hai bên có được đảm bảo rõ ràng?… Vì vậy, nên chăng Nhà nước hãy ban hành một hệ thống các văn bản pháp quy, cho phép hình thành một thị trường trong lĩnh vực này. Bên cạnh đó, cũng cần xây dựng và đào tạo đội ngũ những người đủ trình độ, để đảm đương việc bảo dưỡng thường xuyên các hệ thống khi đã chuyển giao; Xây dựng một mạng lưới dịch vụ đến các vùng có dự án, để có thể xử lý kịp thời những sự cố xảy ra cho các hệ thống. Và quan trọng hơn là, cần thường xuyên kiểm tra, phát hiện các vi phạm và có chế tài xử phạt đối với những người tự ý thay đổi hệ thống…

Về lâu dài, Chính phủ nên giao cho các Bộ, ngành xây dựng chiến lược phát triển năng lượng tái tạo trên phạm vi toàn quốc. Đây là vấn đề lớn, đòi hỏi phải tổng hợp khả năng chuyên môn cao của các ngành, các cấp và khả năng thu hút nhiều nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước. Chính vì vậy, vấn đề phát triển năng lượng mới ở nước ta đang rất cần có hành lang pháp lý, để tạo sự thống nhất, tập trung sức mạnh toàn dân, nhằm khai thác có hiệu quả tiềm năng sẵn có từ thiên nhiên. Hơn nữa, để tránh bị tụt hậu với xu thế phát triển chung trên toàn thế giới.



Theo: Lã Hằng KHCN số 5/2004

Bao giờ năng lượng tái tạo phát triển tương xứng với tiềm năng?

Mặc dù năng lượng tái tạo ở Việt Nam thực sự có tiềm năng, nhưng trên thực tế, sự phát triển của nó vẫn còn mang tính tự phát, thiếu một quy hoạch tổng thể. Còn trong Chiến lược phát triển ngành điện, năng lượng tái tạo cũng chưa có vị trí tương xứng với tiềm năng của nó.

Theo dự thảo "Chính sách năng lượng quốc gia" do Bộ Công nghiệp vừa hoàn thành để trình Chính phủ phê duyệt, tỷ trọng năng lượng tiêu thụ của ngành công nghiệp sẽ tăng 24% vào năm 2020 và 42% vào năm 2050, trong đó điện sẽ tăng từ 21% năm 2003 lên 34% vào năm 2020, than giảm từ 51% xuống còn 26% và khí đốt sẽ chiếm khoảng 10% trong giai đoạn 2010- 2020.

Từ các số liệu trên, dễ dàng nhận thấy rằng năng lượng của ta hiện đang dựa vào ba nguồn cung cấp chính là điện, than và dầu khí. Còn trong lĩnh vực sản xuất điện, hiện cũng đang hình thành thế chân vạc với ba nguồn chính là thủy điện (chiếm 41%), nhiệt điện dùng khí (gần 40%) và nhiệt điện dùng than (chiếm khoảng 17-18%). Các nguồn năng lượng khác, trong đó có cả năng lượng tái tạo, chiếm một tỷ trọng không đáng kể, hay nói theo cách khác thì chỉ là một "chấm nhỏ" trong bức tranh toàn cảnh năng lượng Việt Nam.

Nguy cơ tiềm ẩn của an ninh năng lượng

Theo Bộ trưởng Công nghiệp Hoàng Trung Hải, phải mất khoảng 30 năm nữa Việt Nam mới có thể hình thành một thị trường điện thực sự và còn rất nhiều thách thức trước mắt phải vượt qua. Một trong những thách thức đó chính là tính ổn định và bền vững của các nguồn năng lượng.

Sự nóng lên của trái đất, tình trạng ô nhiễm, việc chặt phá rừng... được coi là những nguyên nhân gây nên sự thay đổi bất thường về khí hậu trong thời gian gần đây. Điều này chắc chắn sẽ tác động không nhỏ đến lưu lượng nước ở các sông, đồng nghĩa với việc nguồn thủy năng sẽ có thể không ổn định và đúng như trong dự báo. Trong một vài năm gần đây, nhiều nhà máy thủy điện lớn đã phải hoạt động cầm chừng trong mùa khô, do lượng nước trong hồ đã hạ xuống gần hoặc dưới mức chết, là một minh chứng cho hiện tượng này.

Trong thời gian tới, tình hình còn có thể nghiêm trọng hơn do để giải quyết vấn đề môi trường cần có thời gian, tiền bạc, công nghệ và nhất là một giải pháp đồng bộ với sự hợp tác, nỗ lực không chỉ một quốc gia. Chính vì thế, cho dù "trong khoảng 20 năm tới sẽ xây dựng hầu hết các nhà máy thủy điện tại những nơi có khả năng xây dựng" như đã đề cập trong "Chiến lược phát triển ngành điện Việt Nam giai đoạn 2004-2010, định hướng đến 2020" vừa được Chính phủ phê duyệt, thì mục tiêu đạt tổng công suất các nhà máy thủy điện khoảng 13.000 - 15.000 MW có thể vẫn nằm ngoài tầm với".

Than và khí hiện đang chiếm hơn một nửa nguồn cung cấp điện. Tuy nhiên, đây cũng không phải là nguồn tài nguyên ổn định và vô tận. Nguồn khí từ Nam Côn Sơn, hiện đang là nguồn cung cấp chính cho tổ hợp nhà máy điện Phú Mỹ và cụm khí - điện - đạm Cà Mau trong tương lai, cũng chỉ khai thác được trong gần 20 năm nữa. Các mỏ khí khác mới được phát hiện ở Bạch Hổ và khu vực Tây Nam hiện mới đang ở trong giai đoạn chuẩn bị đưa vào khai thác. Chính vì lý do đó mà con số dự báo đưa ra trong Chiến lược phát triển ngành điện "sẽ xây dựng thêm từ 3.500MW đến 7.000MW trong giai đoạn 2011 - 2020 phụ thuộc vào nguồn khí phát hiện được".

Theo các số liệu thăm dò, trữ lượng than của Việt Nam hiện có khoảng trên 2 tỷ tấn than Anthracite, có thể đủ để khai thác hàng trăm năm nữa. Tuy nhiên, chi phí đầu vào hiện ngày càng tăng cao do phải khai thác xuống sâu, chưa kể đến cái giá phải trả cho việc tàn phá môi trường. Dù chúng ta có nỗ lực đến đâu thì cũng chỉ có thể giảm thiểu ảnh hưởng của nó chứ không thể giải quyết trọn vẹn được bài toán bảo vệ môi trường.

Ngành điện cũng đã có kế hoạch xây dựng nhà máy điện nguyên tử, hiện đang gây nhiều tranh cãi, và nhập khẩu điện. Tuy nhiên, các biện pháp này cũng chưa thể giải quyết dứt điểm được vấn đề thiếu điện trong tương lai.



Theo: TBKTVN – 10/11/2004

Năng lượng tái tạo cơ hội duy nhất

Nếu biện hộ cho việc ủng hộ sử dụng năng lượng tái tạo chỉ vì lý do sinh thái sẽ khó thuyết phục được các nước đang phát triển. Điều này thể hiện rõ trong các cuộc hội nghị về khí hậu thế giới được tổ chức từ năm 1995 đến năm 2001, dẫn đến Nghị định thư Kyoto. Các nước đang phát triển cho rằng chuyển hướng sang chính sách năng lượng thân thiện môi trường là nhiệm vụ cơ bản của các quốc gia công nghiệp hoá. Các nước này tiêu thụ năng lượng tính theo đầu người với mức cao hơn 10-15 lần so với các nước đang phát triển.

Theo các nước đang phát triển, bất kỳ một sáng kiến nào về cung cấp năng lượng sinh thái, trước hết, phải là từ các quốc gia công nghiệp hoá. Đối với các nước đang phát triển, vấn đề này đòi hỏi chi phí quá cao, về khía cạnh kinh tế, không thực hiện được. Các cuộc thảo luận cho thấy, gánh nặng chi phí của chính sách năng lượng mới cũng quá cao đối với cả các nước giàu. Với lý do chi phí cao hơn so với việc cung cấp năng lượng thông thường, các nước đang phát triển hầu như nhất trí với quan điểm là họ chỉ có thể thực hiện các bước huy động năng lượng tái tạo, nếu được tài trợ theo khuôn khổ viện trợ phát triển.

Quan điểm này cho rằng, năng lượng tái tạo chỉ là vấn đề chi phí trực tiếp, là vấn đề kinh tế vi mô của việc cung cấp năng lượng trực tiếp. Điều này không liên quan đến các khía cạnh kinh tế vĩ mô của việc cung cấp năng lượng, dù các tác động này tiêu cực hay tích cực. Tuy nhiên, cung cấp năng lượng không phải là vấn đề của một lĩnh vực. Cần đề cập đến tính xã hội của năng lượng và của kinh tế để nhận biết những mối liên kết cơ bản. Đầu thế kỷ XX, Frederick Soddy, một nhà xã hội học người Anh, đã viết trong cuốn "Vật chất và Năng lượng" là các định luật thể hiện mối liên quan giữa năng lượng và vật chất không chỉ quan trọng về khoa học thuần tuý. Chúng liên quan đến sự hiểu biết lịch sử nhân loại và quan trọng đối với việc xây dựng tương lai. Vấn đề năng lượng có tính quyết định đối với sự phát triển và thoái triển của các hệ thống chính trị, hoà bình hay sự khuất phục của các quốc gia, sự phát triển của thương mại và công nghiệp, cội nguồn của sự giàu có hay nghèo khổ và sự phồn thịnh vật chất chung của loài người.

Không nên nhìn nhận các mối liên quan này một cách tách biệt khi nói về chi phí của từng công nghệ năng lượng cụ thể. Cần nghiên cứu các hệ thống năng lượng, tất cả các dòng năng lượng từ nguồn đến việc sử dụng cuối cùng, tất cả các chi phí trực tiếp và gián tiếp đối với các nền kinh tế quốc gia và tất cả các tác động tiêu cực và tích cực đến môi trường cũng như là các hậu quả về chính trị.

Về phương diện vật lý, tất cả hệ thống năng lượng do con người tạo ra phải tuân theo dòng của các nguồn năng lượng này và cần đưa ra các quyết định tạo thuận lợi cho chúng. Những dòng năng lượng này quyết định sự lựa chọn công nghệ, cơ sở hạ tầng thiết yếu và các mô hình kinh doanh cung cấp năng lượng. Tất cả các yếu tố này quyết định chi phí thực tế và phạm vi xã hội đáp ứng các nhu cầu năng lượng.

Quá trình tiêu thụ hoặc sử dụng năng lượng có đặc điểm phi tập trung, diễn ra tại nơi con người sống và làm việc. Tuy nhiên, việc khai thác năng lượng hoá thạch và hạt nhân không tránh khỏi sự tập trung hoá. Các nguồn dầu, khí tự nhiên, than và urani lại tập trung ở một số ít khu vực trên hành tinh. Ví dụ: 60% trữ lượng dầu, hiện nay được khai thác chỉ từ 40 mỏ dầu lớn, mà 26 trong số đó lại ở các nước xung quanh Vịnh Péc Xích. Khi các mỏ dầu này cạn dần trong ít thập niên nữa, thì chúng ta càng phụ thuộc nhiều hơn vào chúng. Chi phí năng lượng này sẽ kìm hãm nền kinh tế toàn cầu, cũng như nền kinh tế từng quốc gia và thậm chí cả các hãng cung cấp năng lượng.

Đối với khí tự nhiên, vấn đề cũng giống như vậy, vì thực tế là các nguồn khí cùng ở chỗ các nguồn dầu. Chỉ có các mỏ than là phân bố rộng hơn và có khả năng khai thác dài hơn, mặc dù về cơ bản tình hình không khác nhau nhiều. Nguồn urani, nguyên liệu cơ bản của nhiên liệu hạt nhân, cũng sẽ cạn trong ít thập niên nữa và các mỏ urani có thể khai thác được thậm chí lại còn tập trung hơn.

Tình hình này dẫn đến mức độ phụ thuộc mang tính sống còn rất cao của các xã hội, tạo tiềm năng xấu cho kinh tế và xã hội, với những vấn đề nghiêm trọng liên quan đến hoà bình thế giới. Do các trữ lượng năng lượng có hạn này sẽ cạn kiệt trong thế kỷ 21, giá cả sẽ tăng một cách có hệ thống. Ngày càng có nhiều người, kể cả ở các nước giàu, sẽ không có khả năng sử dụng năng lượng và ngày càng có nhiều nền kinh tế sẽ bị ảnh hưởng xấu.

Xu thế này hiện đang diễn ra ở hầu hết các nước đang phát triển, trước hết là ở các nước không có nhiên liệu hoá thạch. Các nước đang phát triển trả giá năng lượng trên thị trường thế giới bằng các nước công nghiệp hoá. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, thu nhập tính theo đầu người của những nước này chỉ bằng 5 đến 10% mức thu nhập ở các nước tiên tiến. Do vậy, chi phí năng lượng thực tế của các nước này thực tế cao hơn 10 đến 20 lần. Không có gì minh họa cho sự khủng hoảng phát triển ở các nước Thế giới Thứ ba tốt hơn sự so sánh này. Tuy nhiên, cũng còn nhiều chỉ số khác nữa. Ví dụ, thuế năng lượng không phải bàn đến nữa ở nhiều nước đang phát triển. Chính xác hơn, tiêu thụ dầu đã phải hỗ trợ. Một chỉ số khác là nhiều "nước kém phát triển nhất" đã phải chi trả nhiều cho nhập khẩu năng lượng hơn là thu nhập từ xuất khẩu. Nói một cách khác, cơ chế này không đem lại triển vọng kinh tế cho các nước này. Cũng không nên quên là cuộc khủng hoảng giá dầu trên thế giới năm 1973 và 1982 là nguyên nhân chính làm cho nợ của Thế giới Thứ ba leo thang từ 200 tỷ USD lên 1,2 nghìn tỷ USD trong thời gian này. Đến nay, các nước đang phát triển vẫn chưa hồi phục khỏi thảm họa này. Với sự gia tăng giá năng lượng thông thường, các nước này đang phải đối mặt với nguy cơ rơi vào tình trạng mất cân đối kinh tế nghiêm trọng.

Một trong những sai lầm rõ nhất về phát triển trong thập kỷ vừa qua là việc thiết lập các hệ thống cung cấp năng lượng tập trung ở các nước đang phát triển, theo gương của các quốc gia công nghiệp hoá trong nhiều thập kỷ. Hệ thống này hoàn toàn không phù hợp với các nước đang phát triển, vì hơn 50%, ở một số nước là đến 90%, dân số sống ở vùng nông thôn. Tuy nhiên, chi phí cung cấp năng lượng cho các trạm điện như vậy lại ít, nên lưới điện chủ yếu tập trung ở các đô thị. Tình trạng đổ xô người vào các khu vực đô thị nghèo đem đến sự phát triển đầy kịch tính của các đô thị, dẫn đến sự quá tải dân số sống trong những điều kiện tồi tàn nhất.

Do vậy, các nước đang phát triển, với mức độ lớn hơn và sớm hơn so với các nước khác, sẽ bị mắc vào bẫy năng lượng hiện sinh. Lối thoát ra khỏi tình trạng này là đưa vào sử dụng năng lượng tái tạo, vì hệ thống cung cấp năng lượng thông thường cản trở sự phát triển xã hội. Hơn nữa, cùng với ưu thế cơ bản về môi trường, năng lượng tái tạo là nguồn năng lượng sẵn có trong nước. Ngoại trừ các dự án thuỷ điện lớn, việc sản xuất năng lượng sẽ theo kiểu phi tập trung. Năng lượng tự nhiên ở địa phương có thể và cần được sản xuất tại chỗ, ngay tại nơi cần tiêu thụ, bằng cách sử dụng các công nghệ phi tập trung. Các nước đang phát triển có thể tiết kiệm được ngoại tệ khó kiếm lẽ ra phải chi cho năng lượng cơ bản. Họ có thể cắt giảm chi phí bằng phương án kết hợp, mà không cần cơ sở hạ tầng trải rộng. Sử dụng tiềm năng năng lượng sinh học trong nước, các nước này có cơ hội tăng tốc phát triển kinh tế nông thôn. Năng lượng tái tạo có ưu thế rõ ràng nhờ đáp ứng nhanh nhu cầu năng lượng tại chỗ. Các công nghệ phi tập trung hoá tạo ra hệ thống năng lượng theo kiểu mô đun, dễ dàng thiết lập một cách nhanh chóng. Mặt khác, các nhà máy điện quy mô lớn phải cần thời gian xây dựng ít nhất là 10 năm trước khi có thể sản xuất ra điện. Vì những lý do này, cần khuyến khích sử dụng năng lượng tái tạo.



Theo: Quản lý ngành Điện, số 12 tháng 12 - 2004

Điện gió, điện mặt trời rất cần được quan tâm

Cả nước đang âu lo về tình trạng thiếu điện một cách nghiêm trọng. Điều tồi tệ hơn - sự cố kỹ thuật – rất có khả năng xảy ra nếu từ giờ đến cuối tháng trời không mưa hoặc lượng mưa quá ít không đủ cung cấp cho các hồ chứa nước, không đủ nâng mực nước lên đến mức bảo đảm chạy tuốc bin an toàn.

Rõ ràng ta đang ở trong tình trạng khủng hoảng năng lượng. Và cho dù hiện tượng này có thể sẽ qua đi khi mùa mưa đến, nhưng với nguồn năng lượng hiện có của cả nước cũng khó để bảo đảm đủ điện cho nhu cầu sản xuất và sinh hoạt đang tăng với tốc độ cao.

Nước ta nằm trong vùng nhiệt đới có thừa nắng (năng lượng mặt trời) và gió (năng lượng gió). Đây là những nguồn năng lượng sạch và đầy tiềm năng nhưng lại chưa được quan tâm đầu tư nghiên cứu và triển khai ứng dụng. Chính sự thiếu nhạy cảm này cũng làm chậm đi tốc độ phát triển năng lượng, và cũng là nhân tố góp phần gây nên cuộc khủng hoảng năng lượng của ta hiện nay. Được biết Nhà nước đang chú tâm đến phương án xây dựng và khai thác nguồn năng lượng hạt nhân - nguồn năng lượng đầy bất trắc và nguy hiểm đối với con người, môi trường và còn chưa nhận được sự đồng thuận rộng rãi trong nhân dân. Và, cho dù nhà máy điện hạt nhân sẽ được xây dựng và khai thác thì cũng không sớm hơn năm 2010, nên khủng hoảng năng lượng cũng không thể khắc phục được trong nhiều năm nữa.

Bởi thế, giải pháp cần thiết và đáng đặt lên hàng ưu tiên để góp phần cứu vãn là nhanh chóng áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong sử dụng năng lượng gió và mặt trời, với mục đích trước tiên là phục vụ cho sinh hoạt. Được biết nhiều nước hiện nay đã từ bỏ dần năng lượng hạt nhân chuyển sang điện sạch (gió và mặt trời). Pháp đã bắt buộc những căn hộ mới xây phải lắp đặt hệ thống năng lượng mặt trời để dùng cho sinh hoạt. Trung Quốc song song với việc xây dựng một số nhà máy hạt nhân cũng tích cực ứng dụng năng lượng gió và mặt trời. Ở nước ta cũng đã có công trình ứng dụng năng lượng mặt trời thí nghiệm cho một số hộ gia đình ở TPHCM và TP Đà Nẵng, tuy chưa được hoàn chỉnh nhưng rất được người sử dụng hưởng ứng. Với sự chuyển giao kỹ thuật của các chuyên gia Bắc Âu có tỉnh đã triển khai sử dụng năng lượng gió. Đặc biệt tỉnh Bình Định đã đi tiên phong trong việc xây dựng các nhà máy điện đầu tiên sử dụng sức gió. Theo kế hoạch, trong năm 2005 tỉnh này sẽ cho vận hành 2 tổ máy đầu tiên của Nhà máy Phong điện Phương Mai số 1 và tiếp tục xây dựng Nhà máy Phong điện Phương Mai 2 với công suất dự kiến 200 MW. Ngoài ra, dự án Phong điện Phương Mai 3 công suất 50,4 MW, gồm 28 tổ máy 1.890 KW, mỗi năm sản xuất từ 150 đến 179 triệu KWh điện với tổng vốn đầu tư 820 tỉ đồng đã có chủ đầu tư. Đây là một bước đi rất đúng hướng. Ở nước ta, tỉnh nào cũng có thể khai thác ứng dụng nguồn năng lượng gió và mặt trời có hiệu quả, chi phí rẻ mà chẳng phải sợ thiếu nhiên liệu như thủy điện và nhiệt điện. Rất mong Nhà nước bên cạnh việc quan tâm xây dựng và phát triển thủy điện, nhiệt điện thì cũng nên quan tâm thỏa đáng cho việc phát triển những nguồn năng lượng rẻ tiền này.



Theo: Tiến sĩ Nguyễn Đình Thoại (TPHCM) - Người LĐ