15.6.05

Năng lượng tái tạo cơ hội duy nhất

Nếu biện hộ cho việc ủng hộ sử dụng năng lượng tái tạo chỉ vì lý do sinh thái sẽ khó thuyết phục được các nước đang phát triển. Điều này thể hiện rõ trong các cuộc hội nghị về khí hậu thế giới được tổ chức từ năm 1995 đến năm 2001, dẫn đến Nghị định thư Kyoto. Các nước đang phát triển cho rằng chuyển hướng sang chính sách năng lượng thân thiện môi trường là nhiệm vụ cơ bản của các quốc gia công nghiệp hoá. Các nước này tiêu thụ năng lượng tính theo đầu người với mức cao hơn 10-15 lần so với các nước đang phát triển.

Theo các nước đang phát triển, bất kỳ một sáng kiến nào về cung cấp năng lượng sinh thái, trước hết, phải là từ các quốc gia công nghiệp hoá. Đối với các nước đang phát triển, vấn đề này đòi hỏi chi phí quá cao, về khía cạnh kinh tế, không thực hiện được. Các cuộc thảo luận cho thấy, gánh nặng chi phí của chính sách năng lượng mới cũng quá cao đối với cả các nước giàu. Với lý do chi phí cao hơn so với việc cung cấp năng lượng thông thường, các nước đang phát triển hầu như nhất trí với quan điểm là họ chỉ có thể thực hiện các bước huy động năng lượng tái tạo, nếu được tài trợ theo khuôn khổ viện trợ phát triển.

Quan điểm này cho rằng, năng lượng tái tạo chỉ là vấn đề chi phí trực tiếp, là vấn đề kinh tế vi mô của việc cung cấp năng lượng trực tiếp. Điều này không liên quan đến các khía cạnh kinh tế vĩ mô của việc cung cấp năng lượng, dù các tác động này tiêu cực hay tích cực. Tuy nhiên, cung cấp năng lượng không phải là vấn đề của một lĩnh vực. Cần đề cập đến tính xã hội của năng lượng và của kinh tế để nhận biết những mối liên kết cơ bản. Đầu thế kỷ XX, Frederick Soddy, một nhà xã hội học người Anh, đã viết trong cuốn "Vật chất và Năng lượng" là các định luật thể hiện mối liên quan giữa năng lượng và vật chất không chỉ quan trọng về khoa học thuần tuý. Chúng liên quan đến sự hiểu biết lịch sử nhân loại và quan trọng đối với việc xây dựng tương lai. Vấn đề năng lượng có tính quyết định đối với sự phát triển và thoái triển của các hệ thống chính trị, hoà bình hay sự khuất phục của các quốc gia, sự phát triển của thương mại và công nghiệp, cội nguồn của sự giàu có hay nghèo khổ và sự phồn thịnh vật chất chung của loài người.

Không nên nhìn nhận các mối liên quan này một cách tách biệt khi nói về chi phí của từng công nghệ năng lượng cụ thể. Cần nghiên cứu các hệ thống năng lượng, tất cả các dòng năng lượng từ nguồn đến việc sử dụng cuối cùng, tất cả các chi phí trực tiếp và gián tiếp đối với các nền kinh tế quốc gia và tất cả các tác động tiêu cực và tích cực đến môi trường cũng như là các hậu quả về chính trị.

Về phương diện vật lý, tất cả hệ thống năng lượng do con người tạo ra phải tuân theo dòng của các nguồn năng lượng này và cần đưa ra các quyết định tạo thuận lợi cho chúng. Những dòng năng lượng này quyết định sự lựa chọn công nghệ, cơ sở hạ tầng thiết yếu và các mô hình kinh doanh cung cấp năng lượng. Tất cả các yếu tố này quyết định chi phí thực tế và phạm vi xã hội đáp ứng các nhu cầu năng lượng.

Quá trình tiêu thụ hoặc sử dụng năng lượng có đặc điểm phi tập trung, diễn ra tại nơi con người sống và làm việc. Tuy nhiên, việc khai thác năng lượng hoá thạch và hạt nhân không tránh khỏi sự tập trung hoá. Các nguồn dầu, khí tự nhiên, than và urani lại tập trung ở một số ít khu vực trên hành tinh. Ví dụ: 60% trữ lượng dầu, hiện nay được khai thác chỉ từ 40 mỏ dầu lớn, mà 26 trong số đó lại ở các nước xung quanh Vịnh Péc Xích. Khi các mỏ dầu này cạn dần trong ít thập niên nữa, thì chúng ta càng phụ thuộc nhiều hơn vào chúng. Chi phí năng lượng này sẽ kìm hãm nền kinh tế toàn cầu, cũng như nền kinh tế từng quốc gia và thậm chí cả các hãng cung cấp năng lượng.

Đối với khí tự nhiên, vấn đề cũng giống như vậy, vì thực tế là các nguồn khí cùng ở chỗ các nguồn dầu. Chỉ có các mỏ than là phân bố rộng hơn và có khả năng khai thác dài hơn, mặc dù về cơ bản tình hình không khác nhau nhiều. Nguồn urani, nguyên liệu cơ bản của nhiên liệu hạt nhân, cũng sẽ cạn trong ít thập niên nữa và các mỏ urani có thể khai thác được thậm chí lại còn tập trung hơn.

Tình hình này dẫn đến mức độ phụ thuộc mang tính sống còn rất cao của các xã hội, tạo tiềm năng xấu cho kinh tế và xã hội, với những vấn đề nghiêm trọng liên quan đến hoà bình thế giới. Do các trữ lượng năng lượng có hạn này sẽ cạn kiệt trong thế kỷ 21, giá cả sẽ tăng một cách có hệ thống. Ngày càng có nhiều người, kể cả ở các nước giàu, sẽ không có khả năng sử dụng năng lượng và ngày càng có nhiều nền kinh tế sẽ bị ảnh hưởng xấu.

Xu thế này hiện đang diễn ra ở hầu hết các nước đang phát triển, trước hết là ở các nước không có nhiên liệu hoá thạch. Các nước đang phát triển trả giá năng lượng trên thị trường thế giới bằng các nước công nghiệp hoá. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, thu nhập tính theo đầu người của những nước này chỉ bằng 5 đến 10% mức thu nhập ở các nước tiên tiến. Do vậy, chi phí năng lượng thực tế của các nước này thực tế cao hơn 10 đến 20 lần. Không có gì minh họa cho sự khủng hoảng phát triển ở các nước Thế giới Thứ ba tốt hơn sự so sánh này. Tuy nhiên, cũng còn nhiều chỉ số khác nữa. Ví dụ, thuế năng lượng không phải bàn đến nữa ở nhiều nước đang phát triển. Chính xác hơn, tiêu thụ dầu đã phải hỗ trợ. Một chỉ số khác là nhiều "nước kém phát triển nhất" đã phải chi trả nhiều cho nhập khẩu năng lượng hơn là thu nhập từ xuất khẩu. Nói một cách khác, cơ chế này không đem lại triển vọng kinh tế cho các nước này. Cũng không nên quên là cuộc khủng hoảng giá dầu trên thế giới năm 1973 và 1982 là nguyên nhân chính làm cho nợ của Thế giới Thứ ba leo thang từ 200 tỷ USD lên 1,2 nghìn tỷ USD trong thời gian này. Đến nay, các nước đang phát triển vẫn chưa hồi phục khỏi thảm họa này. Với sự gia tăng giá năng lượng thông thường, các nước này đang phải đối mặt với nguy cơ rơi vào tình trạng mất cân đối kinh tế nghiêm trọng.

Một trong những sai lầm rõ nhất về phát triển trong thập kỷ vừa qua là việc thiết lập các hệ thống cung cấp năng lượng tập trung ở các nước đang phát triển, theo gương của các quốc gia công nghiệp hoá trong nhiều thập kỷ. Hệ thống này hoàn toàn không phù hợp với các nước đang phát triển, vì hơn 50%, ở một số nước là đến 90%, dân số sống ở vùng nông thôn. Tuy nhiên, chi phí cung cấp năng lượng cho các trạm điện như vậy lại ít, nên lưới điện chủ yếu tập trung ở các đô thị. Tình trạng đổ xô người vào các khu vực đô thị nghèo đem đến sự phát triển đầy kịch tính của các đô thị, dẫn đến sự quá tải dân số sống trong những điều kiện tồi tàn nhất.

Do vậy, các nước đang phát triển, với mức độ lớn hơn và sớm hơn so với các nước khác, sẽ bị mắc vào bẫy năng lượng hiện sinh. Lối thoát ra khỏi tình trạng này là đưa vào sử dụng năng lượng tái tạo, vì hệ thống cung cấp năng lượng thông thường cản trở sự phát triển xã hội. Hơn nữa, cùng với ưu thế cơ bản về môi trường, năng lượng tái tạo là nguồn năng lượng sẵn có trong nước. Ngoại trừ các dự án thuỷ điện lớn, việc sản xuất năng lượng sẽ theo kiểu phi tập trung. Năng lượng tự nhiên ở địa phương có thể và cần được sản xuất tại chỗ, ngay tại nơi cần tiêu thụ, bằng cách sử dụng các công nghệ phi tập trung. Các nước đang phát triển có thể tiết kiệm được ngoại tệ khó kiếm lẽ ra phải chi cho năng lượng cơ bản. Họ có thể cắt giảm chi phí bằng phương án kết hợp, mà không cần cơ sở hạ tầng trải rộng. Sử dụng tiềm năng năng lượng sinh học trong nước, các nước này có cơ hội tăng tốc phát triển kinh tế nông thôn. Năng lượng tái tạo có ưu thế rõ ràng nhờ đáp ứng nhanh nhu cầu năng lượng tại chỗ. Các công nghệ phi tập trung hoá tạo ra hệ thống năng lượng theo kiểu mô đun, dễ dàng thiết lập một cách nhanh chóng. Mặt khác, các nhà máy điện quy mô lớn phải cần thời gian xây dựng ít nhất là 10 năm trước khi có thể sản xuất ra điện. Vì những lý do này, cần khuyến khích sử dụng năng lượng tái tạo.



Theo: Quản lý ngành Điện, số 12 tháng 12 - 2004

0 Comments:

Post a Comment

<< Home